Công nghệ cấp nước kiểu đập ngầm và hào thu nước

1. Lịch sử ra đời của công nghệ

Cấp nước sinh hoạt và vệ sinh môi trường nông thôn là một vấn đề đang được Đảng và Nhà nước hết sức quan tâm. Thủ tướng chính phủ đã có quyết định số 277/2006/QĐ-TTg ngày 11/12/2006 về việc Phê duyệt chương trình mục tiêu quốc gia về nước sạch và vệ sinh môi trường nông thôn.
       Cấp nước phục vụ sinh hoạt và sản xuất cho các vùng di dân tái định cư thủy điện Sơn La là một nhiệm vụ hết sức cấp bách. Nhiều giải pháp cấp nước đã được triển khai, tuy nhiên hiệu quả vẫn chưa được như mong muốn. Thực hiện nhiệm vụ cấp Nhà nước "Nghiên cứu ứng dụng giải pháp cấp nước hữu hiệu phục vụ sinh hoạt và sản xuất vùng di dân tái định cư hai huyện Phong Thổ và Sìn Hồ tỉnh Lai Châu" Viện Thủy công đã ứng dụng giải pháp gom nước trong đất bằng các tấm Water Belt, đây là một giải pháp mới, có nhiều ưu điểm và có triển vọng áp dụng cho các vùng có điều kiện tương tự.

       Tại các vùng núi về mùa khô không có nguồn nước mặt, nguồn nước ngầm khan hiếm, giải pháp cấp nước đang được áp dụng là tận dụng nước mặt hoặc thu trữ nước mưa để sử dụng cho mùa khô. Hình thức công trình được áp dụng phổ biến là: (1) Xây dựng các đập dâng trên suối, dẫn đường ống về bể chứa qui mô hộ gia đình hoặc qui mô cụm gia đình; (2) Lợi dụng các mó nước gần khu vực dân cư, tuy nhiên không phải nơi nào cũng có điều kiện này; (3) Xây dựng bể chứa nước mưa công cộng (hồ treo) cấp nước sinh hoạt cho cụm dân cư hoặc thôn bản. Tuy vậy, do điều kiện tự nhiên và khí hậu khắc nghiệt, khó khăn về nước sinh hoạt tại các vùng nông thôn miền núi vẫn còn rất lớn, nhất là các vùng cao núi đá, luôn là vấn đề cần thiết, cấp bách để các Bộ, ban, ngành và người dân chung sức đóng góp, xây dựng các công trình cấp nước sạch vì mục tiêu phát triển bền vững.
        Theo quy hoạch chi tiết của chương trình di dân tái định cư thủy điện Sơn La,  trên địa bàn tỉnh Lai Châu dự kiến tiếp nhận số hộ dân tái định cư (TĐC) là 3.579 hộ, trong đó có 3.124 hộ dân nội tỉnh và 455 hộ dân của tỉnh Điện biên chuyển sang. Đến thời điểm cuối năm 2010, khi mực nước hồ Sơn La lên mực nước dâng bình thường, 34 khu TĐC trên địa bàn huyện Sìn Hồ và Phong Thổ đều đã có công trình cấp nước sinh hoạt từ 24 đầu mối cấp nước. Tuy nhiên qua điều tra thực tế có các tồn tại như: có 4/24 (chiếm 17%) công trình đầu mối  bị cát sỏi bồi lấp, cửa lấy nước bị thu hẹp làm giảm lượng nước dẫn về bể; 15/24 (chiếm 63%) hệ thống kênh/đường ống cấp nước từ đầu mối về các bản bị hư hỏng nặng: kênh bị thủng, đường ống bị chặt phá... Đầu mối lấy nước nằm cách xa hộ dùng nước nên đường ống quá dài, đi qua nhiều địa hình phức tạp, chia cắt, làm cho việc quản lý bảo vệ hết sức khó khăn. Chất lượng nước nhiều điểm không đạt yêu cầu, đa số đều có hàm lượng Coliform vượt giới hạn cho phép, nhiều nơi nước đục. Bên cạnh đó, ý thức một số người dân kém, không có cơ chế rõ ràng và thỏa đáng cho người được giao nhiệm vụ trong coi hệ thống cấp nước sạch.